"Quảng Ninh cần có những hỗ trợ để sớm khắc phục ô nhiễm môi trường"

Thứ Hai, 10/08/2015, 05:26 [GMT+7]
.
.

Đợt mưa lớn kéo dài từ cuối tháng 7 sang đầu tháng 8 vừa qua đã gây ngập lụt trên diện rộng, sạt lở đất đá ở một số bãi thải mỏ xuống khu vực dân cư. Nhiều người dân không khỏi lo lắng trước vấn đề ô nhiễm môi trường. Để làm rõ vấn đề này, phóng viên Báo Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với đồng chí Phạm Văn Cường (ảnh), Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh.

- Thưa đồng chí, đợt mưa lũ lớn vừa qua đã gây ngập lụt trên diện rộng, sạt lở một số bãi thải mỏ cuốn theo lượng bùn đất xuống khu vực dân cư khu vực hạ lưu bãi thải. Đồng chí có thể đánh giá mức độ ô nhiễm đến môi trường?

+ Có thể khẳng định trận mưa lũ này đã gây thiệt hại lớn cho tỉnh Quảng Ninh và ngành Than, nhiều bãi thải mỏ sạt lở, xói mòn, trôi lấp đất đá xuống các vùng thấp hơn, nhất là khu vực bãi thải Đông Cao Sơn làm hư hại nhà cửa của nhân dân. Mưa lũ kéo dài gây ngập úng và sạt lở đất, bồi lấp sông suối, hoa màu, nhà cửa ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Như chúng ta đã biết, trong thành phần đất đá thải, bã xít có một phần hàm lượng sắt. Qua quá trình oxy hóa cộng với những nguyên tố lưu huỳnh, khi chịu tác động của nước, có thể tạo thành dạng axit H2SO4 (sunfuric), đây là chất có thể gây tác động xấu tới môi trường.

- Được biết, trước khi thực hiện đổ thải, các đơn vị ngành Than, Tổng Công ty Đông Bắc đều đã lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Vậy đồng chí đánh giá như thế nào về việc sạt lở này?

+ Trước tiên phải khẳng định rằng 100% các dự án khai thác than trên địa bàn được cơ quan chức năng có thẩm quyền phê duyệt ĐTM và Dự án cải tạo phục hồi môi trường. Tuy nhiên, ngành Than đã có quá trình khai thác than trên 170 năm, nhưng thực tế công tác bảo vệ môi trường, quy hoạch đổ thải, công nghệ khai thác, vận chuyển xử lý chất thải mới được quan tâm hơn 10 năm trở lại đây. Hiện nay, hầu hết các mỏ than lộ thiên của TKV sử dụng hệ thống bãi thải ngoài với công nghệ đổ thải cao. Khối lượng thải lớn nhất tập trung tại vùng Cẩm Phả, khoảng 60 đến 70 triệu m3/năm. Các bãi thải của các mỏ than khai thác lộ thiên thường có chiều cao khoảng từ 60-150m, có nơi lên tới 250m. Bên cạnh đó, nhiều bãi thải như Nam Đèo Nai, Nam Lộ Phong hiện đang nằm trong khu đô thị hoặc bị các khu dân cư hình thành sau bao bọc chung quanh hoặc nằm sát ngay chân bãi thải. Các bãi thải như Cao Sơn, Khe Rè lại có xu hướng mở rộng, tiến dần về khu dân cư. Qua sự việc sạt lở bãi thải Đông Cao Sơn, đây là sự cố môi trường do mưa lũ lịch sử (thiên tai khó lường), tuy nhiên, qua đây cũng là bài học cho cơ quan quản lý nhà nước và đặc biệt là ngành Than trong việc đổ thải và cải tạo phục hồi môi trường.

- Để đảm bảo an toàn cho người dân cần phải có những giải pháp gì, thưa đồng chí?

+ Trước mắt để đảm bảo an toàn cho người dân do sự cố sạt lở bãi thải Đông Cao Sơn, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt việc di dời 94 hộ dân ở khu 4 phường Mông Dương, TP Cẩm Phả ra khỏi khu vực, đồng thời bố trí khu đất tái định cư xa khu vực chân bãi thải để sớm ổn định đời sống nhân dân. Về lâu dài ngành Than phải quy hoạch bãi thải, thay đổi phương pháp đổ thải tầng cao bằng phương pháp đổ thải tầng thấp, kè chắn chân bãi thải, các khu vực đổ thải phải đầm nén chặt, hạ thấp độ cao tầng thải, đảm bảo an toàn cho bãi thải và bảo vệ môi trường. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cần có những hỗ trợ cần thiết cho tỉnh Quảng Ninh, TKV nhằm sớm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, do đợt mưa lũ vừa qua gây ra…

- Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!

Thu Trang (thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.