TP Uông Bí: Việc bồi thường cho các hộ dân theo phương án đã phê duyệt tại thời điểm thu hồi đất là đúng

Thứ Sáu, 06/07/2012, 10:08 [GMT+7]
.
.

Năm 2009 và 2010 các hộ dân có đất bị thu hồi để giải phóng mặt bằng (GPMB) triển khai 4 dự án trên địa bàn TP Uông Bí gồm: Khu dân cư tự xây thôn Tân Lập, xã Phương Đông; xây dựng khu văn phòng và dân cư đô thị tại phường Thanh Sơn và Khu nhà cao tầng của Công ty Than Nam Mẫu đã có đơn kiến nghị đến các cấp đề nghị được hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư. Mặc dù đã được các cơ quan chức năng cũng như chính quyền địa phương xem xét, giải quyết thấu đáo, trả lời cụ thể song các hộ dân này vẫn tiếp tục kiến nghị.

Tìm hiểu trở lại vụ việc này, chúng tôi được biết: Khi kiểm tra, rà soát và đối chiếu với quy định tại Khoản 1, Điều 13, Quyết định số 1122 (ngày 20-4-2005 của UBND tỉnh), UBND TP Uông Bí xác định hỗ trợ bổ sung 20% giá đất ở liền kề cho các hộ dân. Tuy nhiên, việc phê duyệt phương án bổ sung cho một số hộ dân của TP Uông Bí sau thời điểm Nghị định số 69/NĐ-CP, ngày 13-8-2009 của Chính phủ có hiệu lực thi hành (ngày 1-10-2009) nên lại tiếp tục phát sinh kiến nghị (trong đó có hộ bà Vũ Thị Chinh trú tại tổ 1, khu 7, phường Thanh Sơn) về việc không đồng ý mức hỗ trợ 20% mà phải áp dụng mức hỗ trợ 35% theo Quyết định 499, ngày 11-2-2010 của UBND tỉnh Quảng Ninh (quyết định cụ thể hoá Nghị định số 69 của Chính phủ).

Sau khi các hộ dân tiếp tục có kiến nghị, TP Uông Bí đã báo cáo đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) xem xét nội dung kiến nghị của các hộ dân. Sở TN&MT đã phối hợp cùng các ngành liên quan và TP Uông Bí rà soát lại cơ chế chính sách mà địa phương đã áp dụng để phê duyệt phương án bổ sung cho các hộ dân.

Sau đó các cơ quan chức năng đã thống nhất: Việc áp dụng mức hỗ trợ 20% là đúng với chính sách quy định, không đồng ý với kiến nghị của các hộ dân về việc đề nghị áp dụng mức hỗ trợ 35% theo quy định tại Quyết định 499 của UBND tỉnh. Bởi theo quy định tại Khoản 4, Điều 39 Nghị định số 69/NĐ-CP của Chính phủ nêu rõ: “Đối với những dự án, hạng mục đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc đang thực hiện chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phương án đã được phê duyệt trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng hoặc điều chỉnh theo quy định Nghị định này. Trường hợp thực hiện bồi thường chậm thì giá đất để thực hiện bồi thường, hỗ trợ thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 9, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP”.

Đối chiếu với quy định trên, các hộ dân thuộc diện thu hồi đất của các dự án đã được thành phố phê duyệt phương án bồi thường và chi trả tiền bồi thường từ những năm 2006, 2007, 2008, vì vậy chính sách được áp dụng tại thời điểm phê duyệt phương án theo quy định tại các Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP (được tỉnh cụ thể hoá tại Quyết định số 1122/2005/QĐ-UB, ngày 20-4-2005 và Quyết định số 4466/2005/QĐ-UB, tháng 12-2005. Theo đó mức hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư được quy định là 20%. Vì vậy TP Uông Bí đã căn cứ Khoản 2, Điều 9, Nghị định 197/2004/NĐ-CP để tính bồi thường cho các hộ dân là phù hợp với quy định của pháp luật (tính theo giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án hỗ trợ bổ sung).

Sau khi UBND tỉnh ban hành văn bản số 4713/UBND-QLĐĐ1 ngày 21-11-2011, bà Chinh đại diện cho các hộ dân tại tổ 1, khu 7, phường Thanh Sơn đã khiếu nại văn bản số 2514/TNMT-ĐKĐĐ của Sở TN&MT là trái với chỉ đạo của UBND tỉnh tại công văn số 1908/UBND-TM4 ngày 18-5-2010 (Công văn 1908/UBND-TM4 của UBND tỉnh chỉ đạo các địa phương rà soát các phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã phê duyệt kể từ ngày 1-10-2009 mà chưa đúng với Nghị định 69/2009/NĐ-CP thì khẩn trương phê duyệt lại cho đúng) và trái với chính sách của nhà nước. Bà Chinh tiếp tục kiến nghị được xem xét, giải quyết hỗ trợ 35% giá đất ở liền kề, không đồng ý với mức hỗ trợ 20% giá đất ở liền kề được lập theo phương án cũ với lý do: Nghị định 69/2009/NĐ-CP có hiệu lực ngày 1-10-2009; đất nông nghiệp của bà là một hạng mục theo Khoản 4, Điều 39, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và được phê duyệt hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư vào ngày 17-12-2009 nên phải được hỗ trợ 35% giá đất ở liền kề chứ không phải 20% như quy định tại Quyết định 1122/2005/QĐ-UB của UBND tỉnh.

Tuy nhiên, theo Quyết định của UBND tỉnh thì đối tượng thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 1908/UBND-TM4 là những phương án thuộc diện điều chỉnh của Nghị định 69/2009/NĐ-CP đó là những dự án mới. Trường hợp của bà Chinh không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và văn bản số 1908/UBND-TM4 của UBND tỉnh nên phương án đền bù, hỗ trợ TP Uông Bí đã thực hiện cho bà Chinh và các hộ dân ở các dự án trên là đúng quy định.

Phòng Bạn đọc

.
.
.
.
.
.
.
.