Báo cáo phát triển KT-XH năm 2020

Tỉnh Quảng Ninh đạt được nhiều thành tựu quan trọng tạo dấu ấn nổi bật trong năm 2020

Thứ Hai, 07/12/2020, 09:02 [GMT+7]
.
.

Sáng 7/12, tại Kỳ họp thường lệ cuối năm 2020, các đại biểu đã nghe đồng chí Nguyễn Tường Văn, Chủ tịch UBND tỉnh, trình bày báo cáo tình hình KT-XH, công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh năm 2020 và kế hoạch phát triển KT-XH năm 2021.

Nguyễn Tường Văn
Đồng chí Nguyễn Tường Văn, Chủ tịch UBND tỉnh, trình bày báo cáo tình hình KT-XH, công tác chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh năm 2020 và kế hoạch phát triển KT-XH năm 2021.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO,
ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH NĂM 2020

I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 trong bối cảnh có ý nghĩa quan trọng, năm cuối của nhiệm kỳ và kế hoạch 5 năm 2016 - 2020; năm diễn ra nhiều ngày lễ kỉ niệm trọng đại của Đảng, đất nước, dân tộc; năm tiến hành đại hội đảng các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đặc biệt, từ đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 xuất hiện, đã tác động, ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền, hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, nhân dân các dân tộc và cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép”, vừa phòng chống dịch COVID-19, vừa phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được kết quả quan trọng trên các lĩnh vực, cụ thể:

1. Về công tác phòng, chống đại dịch COVID-19

Ngay từ khi bắt đầu xuất hiện dịch bệnh COVID-19 tại Vũ Hán (Trung Quốc), tỉnh đã sớm nhận diện rõ những nguy cơ tác động vào địa bàn của một địa phương tuyến đầu, vừa có đường biên giới trên bộ, trên biển, có cửa khẩu quốc tế, quốc gia, có đường hàng không, là địa bàn trọng điểm du lịch, có độ mở giao thương lớn; đồng thời là địa phương được Trung ương giao trọng trách thực hiện nhiệm vụ đón các công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước qua Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt đồng bộ, kịp thời, hiệu quả các biện pháp phòng, chống đại dịch, với phương châm "3 trước", "4 tại chỗ", phù hợp với thực tiễn của tỉnh; kiểm soát, khống chế được dịch bệnh, không để lây lan, nảy sinh mầm bệnh trên địa bàn; tạo môi trường an toàn để tập trung phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế, xã hội.

Tính đến ngày 03/12/2020, đã thực hiện xuất nhập cảnh cho 15.397 công dân Quảng Ninh và 4.635 công dân Việt Nam về nước; đón 154 chuyến bay đưa 32.327 công dân Việt Nam và các chuyên gia, lao động tay nghề cao người nước ngoài về Việt Nam; xét nghiệm, sàng lọc cho 39.560 trường hợp, trong đó có 21 ca dương tính đều là trường hợp người từ nước ngoài về Việt Nam; thực hiện cách ly tập trung 28.318 người; khai báo y tế và kiểm tra sức khỏe toàn dân đạt trên 99,02% dân số toàn tỉnh; xử lý 567 trường hợp vi phạm quy định về phòng, chống dịch.

2. Về phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế đạt cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) cả năm ước đạt 10,05%, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, là mức tăng trưởng cao trong bối cảnh dịch COVID-19, trong đó: Khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 4,1%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 13,5%; khu vực dịch vụ tăng 7,5%; thuế sản phẩm tăng 5,8%. GRDP bình quân đầu người ước đạt trên 6.700 USD, tăng 8,4% cùng kỳ. Năng suất lao động xã hội ước đạt 292,9 triệu đồng/người/năm, tăng 10,6% cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 85.369 tỷ đồng, tăng 11,3% cùng kỳ.

Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng cao, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Tỉnh đã tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện để các ngành than, điện, xi măng, vật liệu xây dựng, dệt may, bột mỳ, dầu thực vật,... tăng công suất, sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ kịp thời để các doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, sớm đưa một số dự án công nghiệp chế biến, chế tạo sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị âm thanh, sản xuất sợi, dệt kim vào hoạt động, bổ sung thêm năng lực sản xuất mới, đẩy tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp tăng cao (đạt 12,66%), bù đắp lại sự sụt giảm của khu vực dịch vụ. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 10,2% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành khai khoáng tăng 9,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,2%; ngành sản xuất phân phối điện tăng 11,8%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,6%. Tỉnh đã tập trung triển khai quyết liệt các dự án đầu tư công, các dự án có nguồn vốn ngoài ngân sách, góp phần tăng khối lượng, tăng 31% giá trị tăng thêm của ngành xây dựng, chiếm tỷ trọng 6,8% GRDP của tỉnh.

Khu vực dịch vụ, du lịch gặp nhiều khó khăn, ngay sau khi dịch bệnh được kiểm soát, tỉnh đã nhanh chóng có những giải pháp mạnh để khôi phục hoạt động của ngành dịch vụ, du lịch. Tỉnh đã kịp thời ban hành 03 Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách hỗ trợ kích cầu du lịch; chủ động làm việc Hiệp hội du lịch tỉnh để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; tổ chức nhiều chương trình, sự kiện kích cầu du lịch; đưa một số sản phẩm du lịch mới, đặc sắc như Khu nghỉ dưỡng khoáng nóng cao cấp Yoko Onsen Quang Hanh, lễ hội Yên Tử - Về miền đất phật mùa thu... thu hút đông đảo nhân dân, du khách đến Quảng Ninh... đồng thời đẩy mạnh thực hiện phong trào “Người Quảng Ninh ưu tiên sử dụng hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, kinh doanh tại tỉnh” để thúc đẩy, kích cầu tiêu dùng, sản xuất. Nhờ có các giải pháp kích cầu kịp thời, các hoạt động du lịch, dịch vụ đã dần được phục hồi. Tổng khách du lịch ước đạt 8,8 triệu lượt khách, giảm 37% cùng kỳ; tổng thu từ du lịch ước đạt 20.497 tỷ đồng, giảm 30,5% cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 128.534 tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong tỉnh ước đạt 2.339 triệu USD, tăng 8,1% cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp trong tỉnh đạt 2.785 triệu USD, tăng 35% cùng kỳ.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có bước tăng trưởng, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tăng 4,11%, cao hơn so với kế hoạch đặt ra (tăng 3,5%). Các cấp, các ngành đã tập trung tháo gỡ khó khăn, kết nối tìm đầu ra, thị trường tiêu thụ nông sản, nhất là các sản phẩm OCOP và thủy sản để thúc đẩy phát triển sản xuất, tiêu dùng, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng. Các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi duy trì quy mô đàn, mở rộng quy mô sản xuất, số lượng đàn gia súc, gia cầm tăng từ 1,8-5,3%; sản lượng thủy sản tăng 11,3% so với cùng kỳ; tỷ lệ che phủ rừng đạt 55%, tăng 0,2% so với cùng kỳ.

Chương trình xây dựng nông thôn mới được các ngành, địa phương tập trung triển khai, với nhiều giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Hết năm 2020, toàn tỉnh có 07 địa phương (Đông Triều, Cô Tô, Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí, Quảng Yên và Tiên Yên) hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, 02 địa phương Đầm Hà và Hải Hà đang lập hồ sơ trình thẩm định huyện đạt chuẩn NTM năm 2020. Đến nay, toàn tỉnh có 91/98 xã đạt chuẩn NTM, 30/98 xã 15 xã đạt chuẩn NTM nâng cao và 12/98 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Giải ngân vốn chương trình nông thôn mới, chương trình 135 đến nay đạt 529/561 tỷ đồng, bằng 94,3% kế hoạch, dự kiến hết năm 2020 giải ngân đạt 100% kế hoạch vốn.

Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cấp sở, ngành, địa phương (DDCI) tiếp tục được cải thiện với mục tiêu phấn đấu năm 2020 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giữ vững vị trí dẫn đầu các tỉnh, thành phố. Cấp mới, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 45 dự án có vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, tổng mức đầu tư đăng ký đạt 24.109 tỷ đồng, tăng 55,5% cùng kỳ (trong đó có 28 dự án FDI, vốn đăng ký 526,2 triệu USD, tăng 84,5% cùng kỳ); có 2.000 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 70,4% kế hoạch, giảm 15% cùng kỳ, tổng vốn đăng ký đạt 24.109 tỷ đồng. Đến nay, toàn tỉnh có 19.600 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 180.000 tỷ đồng.

Thu ngân sách nhà nước đảm bảo tiến độ dự toán; kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách được tăng cường. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2020 ước đạt 49.300 tỷ đồng, tăng 9,4% so với dự toán TW giao, tăng gần 3,0% so dự toán HĐND Tỉnh giao, tăng gần 7,0% so cùng kỳ. Trong đó: Thu xuất nhập khẩu ước đạt 12.300 tỷ, tăng 29% so với dự toán TW giao, tăng 11,8% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 8% cùng kỳ, chiếm gần 25% tổng thu ngân sách nhà nước; Thu ngân sách nội địa ước đạt 37.000 tỷ đồng, tăng 4,1% so với dự toán TW giao, đạt 100% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 6,7% so với cùng kỳ, chiếm 75% tổng thu ngân sách. Chi thường xuyên ước đạt 10.713 tỷ đồng, đạt 95% dự toán, bằng 89% cùng kỳ. Tổng kế hoạch chi đầu tư công năm đến ngày 15/11/2020 bố trí là 15.213 tỷ đồng, giải ngân đạt 11.664 tỷ đồng, bằng 76,6% kế hoạch (cùng kỳ đạt 57% KH), dự kiến hết năm 2020 giải ngân đạt 100% KH.

3. Ba đột phá chiến lược tiếp tục được tập trung chỉ đạo

Tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình trọng điểm, động lực trên địa bàn tỉnh. Tỉnh đã khởi công mới và đẩy nhanh tiến độ đầu tư 09 dự án, công trình động lực, với tổng vốn đầu tư 32.338 tỷ đồng. Hoàn thành và gắn biển 10 công trình chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, với tổng mức đầu tư trên 5.649 tỷ đồng; các dự án, công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh, nhất là các dự án trong khu kinh tế, khu công nghiệp, dự án cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, tuyến đường bao biển Hạ Long - Cẩm Phả, cầu Triều được đẩy nhanh tiến độ thi công; hoàn thành xây dựng Đề án Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030.

Công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thể chế, thủ tục hành chính được các cấp, các ngành triển khai bằng các nhiệm vụ, giải pháp thiết thực, với mục tiêu năm 2020 tiếp tục giữ vững và cải thiện điểm số của các Chỉ số Par Index, SIPAS, PAPI. Tổng số TTHC đã đưa vào giải quyết tại Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh là 1.939 TTHC, cấp huyện 293 TTHC, cấp xã 111 TTHC. Số TTHC toàn tỉnh mức độ 3, mức độ 4 là 1.552 TTHC, trong đó mức độ 4 cấp tỉnh 625 TTHC, đạt 36% (tăng 22 điểm % so với năm 2019). Cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 đối với 525 TTHC trên Cổng dịch vụ công Quốc gia, đứng đầu toàn quốc; kết nối liên thông với 07 cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các Bộ, ngành Trung ương; kết nối liên thông Trung tâm điều hành thông minh của tỉnh với Trung tâm chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Tiếp tục quan tâm phát triển nguồn nhân lực và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Năm 2020, Tỉnh đã triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho 8.321 học viên, tổng kinh phí gần 30 tỷ đồng. Năm học 2020 - 2021, Trường Đại học Hạ Long đã tuyển sinh 1.200 sinh viên hệ chính quy; tuyển sinh, đào tạo nghề cho 32.478 người, đạt 67,8% kế hoạch năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ước đạt 85%, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 45,5%.

4. Công tác đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân và văn hóa thông tin tiếp tục được cải thiện

Các cấp, các ngành thực hiện đầy đủ chính sách an sinh xã hội, các chế độ chính sách đối với gia đình người có công, hộ nghèo, đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tổng chi chi an sinh xã hội đạt 2.280 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ; hỗ trợ 88.950 trường hợp gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, với tổng số tiền 102,7 tỷ đồng; hỗ trợ sửa chữa, xây mới nhà ở cho người có công giai đoạn 3 là 2.558 hộ, đạt 96%; tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 0,52% năm 2019 xuống còn 0,36% năm 2020.

Chất lượng giáo dục tiếp tục chuyển biến tích cực; cơ sở vật chất cho giáo dục, đào tạo được tăng cường; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy và học tập; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 86,82% (547/630 trường); tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 90,5%; tổ chức thành công Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2020 đảm bảo an toàn, nghiêm túc, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 96,3%.

Hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc trẻ em đạt nhiều kết quả; đầu tư, nâng cấp, mở rộng Trung tâm y tế (Móng Cái, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên), trung tâm kiểm soát bệnh tật, Trung tâm kiểm dịch y tế, Bệnh viện bảo vệ sức khỏe tâm thần, Bệnh viện y dược cổ truyền. Các chỉ tiêu chương trình mục tiêu về y tế được triển khai thực hiện đảm bảo kế hoạch; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95%; số bác sỹ trên 1 vạn dân đạt 14,8 bác sỹ; số giường bệnh trên vạn dân đạt 54,6 giường bệnh; tiêu chí quốc gia về y tế xã đạt 100%.

Các hoạt động văn hóa, thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình không ngừng đổi mới, kịp thời tuyên truyền đúng trọng tâm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của Tỉnh, trọng tâm là phát triển kinh tế, xã hội, tuyên truyền về đại hội đảng các cấp. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 11 của Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển văn hóa con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và xây dựng Bộ Tiêu chí Người Quảng Ninh. Công tác quản lý, bảo tồn phát huy đươc giá trị di sản văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo được tăng cường. Tỉnh tập trung triển khai lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Quần thể di tích Yên Tử là di sản thế giới.

5. Công tác quy hoạch, GPMB, quản lý đất đai, đô thị, tài nguyên và môi trường; hoạt động ứng dụng, chuyển giao KHCN được tăng cường

Công tác lập, quản lý quy hoạch tiếp tục được tập trung triển khai. Hoàn thành các Đồ án: điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn; điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Cẩm Phả; quy hoạch chung xây dựng huyện đảo Cô Tô; thành lập Khu kinh tế ven biển Quảng Yên tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh; đẩy nhanh tiến độ lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, lập điều chỉnh quy hoạch Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; xây dựng Chương trình phát triển đô thị tỉnh đến năm 2030. Đến nay, tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung đô thị đạt 100%, quy hoạch phân khu các địa phương đạt 56,6%, quy hoạch chi tiết xây dựng đạt 56,9%, quy hoạch nông thôn mới đạt 100%; tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh đạt 65,5%.

Công tác quản lý đất đai, đô thị, tài nguyên và môi trường được quản lý chặt chẽ; triển khai quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện giai đoạn 2021-2025 và năm 2021; định kỳ rà soát, xử lý các dự án đầu tư có sử dụng đất, mặt nước chậm tiến độ, vi phạm pháp luật và công tác giao đất, cho thuê đất, quản lý đối với đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình, cá nhân thuộc thẩm quyền UBND cấp huyện. UBND tỉnh đã quyết định thu hồi đất do hết hạn, do vi phạm pháp luật và thu hồi đất do tự nguyện trả lại đất đối với 24 tổ chức, với tổng diện tích 109 ha; giao đất cho 103 tổ chức, với diện tích 567 ha; cho 99 tổ chức thuê đất với diện tích 1.225 ha. Quyết liệt triển khai công tác GPMB để thu hút đầu tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án công trình trọng điểm cả trong và ngoài ngân sách; hoàn thành chiến dịch "30 ngày đêm" về công tác GPMB toàn bộ dự án Đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái trước thời hạn 15 ngày.

Tập trung triển khai Nghị quyết số 12 của Tỉnh ủy về bảo vệ môi trường tỉnh giai đoạn 2018-2022, Nghị quyết 16 ngày 09/5/2019 của Tỉnh ủy về tăng cường quản lý tài nguyên than, khoáng sản; chủ động kiểm tra, xử lý các hoạt động khai thác, tập kết, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; giám sát chặt chẽ hoạt động của 143 trạm quan trắc môi trường tự động; kiểm soát, bảo vệ nghiêm ngặt môi trường vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long.

Các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tiếp tục được triển khai, với 44 nhiệm vụ cấp tỉnh; hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sử dụng địa danh, đăng ký nhãn hiệu cho các sản phẩm.

6. Công tác xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền; thanh tra, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được quan tâm

Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được củng cố; tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã và nhập huyện Hoành Bồ vào thành phố Hạ Long theo Nghị quyết số 837 ngày 17/12/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; triển khai thí điểm thành lập Ban Quản lý Khu Kinh tế Vân Đồn; thực hiện tinh giản 334 trường hợp cán bộ bộ, công chức, viên chức. Tổ chức thành công cuộc bầu cử trưởng thôn, bản, khu phố, nhiệm kỳ 2020 - 2022.

Công tác thanh tra, kiểm tra đảm bảo đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Triển khai 139 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, 29 cuộc thanh tra trách nhiệm; đã ban hành kết luận thanh tra 125 cuộc. Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 20 tỷ đồng, kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm 116 tập thể, 129 cá nhân; thực hiện kiểm toán ngân sách, kiểm toán một số dự án đầu tư; đồng thời thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị sau kiểm toán, thanh tra. Chủ động phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện chuyển đổi vị trí công tác đối với 194 trường hợp, điều tra 13 vụ, 26 bị can về tội tham nhũng. Công tác cải cách tư pháp, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, hỗ trợ pháp lý, hành chính tư pháp và bổ trợ tư pháp đạt nhiều kết quả.

Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết kiến nghị của cử tri được các cấp, các ngành tập trung giải quyết, có nhiều đổi mới và dứt điểm từng vụ việc; các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 9.506 lượt công dân, tăng 4,3% cùng kỳ, với 5.386 vụ việc, tăng 5,1% cùng kỳ; tiếp nhận, xử lý 11.472 đơn, giảm  4,2% cùng kỳ, với 488 vụ việc khiếu nại, giảm 13% cùng kỳ, 59 vụ việc tố cáo, tăng 70,5% cùng kỳ; đã xử lý giải quyết (cả vụ việc chuyển tiếp 2019) là 410/587 vụ việc khiếu nại, đạt 70%, giải quyết 51/60 vụ việc tố cáo, đạt 85%.

7. Quốc phòng, an ninh được củng cố, ổn định, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; tình hình trật tự, an ninh trên tuyến biên giới, biển đảo, an ninh chính trị, kinh tế, thông tin, tôn giáo, dân tộc cơ bản ổn định. Thực hiện hiệu quả các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm; tội phạm trật tự xã hội xảy ra 616 vụ, giảm 5,2% so cùng kỳ; tỷ lệ kết quả điều tra, khám phá đạt cao, trên 85%; xử lý 3.853 vụ buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, trị giá hàng hóa trên 40 tỷ đồng, giảm 6,2% so với cùng kỳ. Toàn tỉnh xảy ra 93 vụ tai nạn giao thông làm chết 56 người, bị thương 62 người; giảm 04 vụ, giảm 5 người chết, giảm 11 người bị thương so với cùng kỳ. Tai nạn lao động xảy ra 29 vụ, làm chết 30 người, tăng 04 vụ, tăng 01 người chết so với cùng kỳ.


Hoạt động đối ngoại được tăng cường, triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả. Quản lý biên giới trên bộ, trên biển ổn định và giữ vững chủ quyền, triển khai theo đúng tinh thần các văn kiện pháp lý đã ký kết. Tăng cường phối hợp với phía Bạn trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 bảo đảm hiệu quả. Tăng cường mối quan hệ gắn bó của nhân dân và lực lượng chức năng hai bên biên giới Việt - Trung, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị cùng phát triển.

II. CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA UBND TỈNH

Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh quyết liệt, chủ động, có trọng tâm, trọng điểm; thực hiện quyết liệt “nhiệm vụ kép”, vừa phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế; hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; xây dựng chính sách kích cầu du lịch kịp thời, khôi phục phát triển kinh tế, lấy lại đà tăng trưởng khi bước sang trạng thái bình thường mới. Thực hiện các giải pháp tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, kiên quyết thu hồi và điều chuyển nguồn vốn đầu tư công có tỷ lệ giải ngân thấp. Chỉ đạo đẩy nhanh khai đầu tư các dự án nhất là các dự án, công trình động lực. Tăng cường quản lý nhà nước trên các lĩnh vực về quy hoạch, đất đai, đô thị, đầu tư xây dựng cơ bản, tài nguyên và môi trường. Quan tâm, chỉ đạo lĩnh vực văn hóa, xã hội. Thường xuyên, sâu sát lãnh đạo, chỉ đạo bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Hoạt động của UBND tỉnh luôn bám sát sự lãnh đạo của Đảng, tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ của Trung ương; tuân thủ quy định của pháp luật, Quy chế làm việc của Tỉnh ủy, sự giám sát của HĐND tỉnh; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò tập thể gắn với đề cao trách nhiệm cá nhân; đối thoại, lắng nghe ý kiến người dân, doanh nghiệp; cung cấp thông tin, giải trình kịp thời về những vấn đề dư luận xã hội quan tâm. Chủ động tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết khó khăn, vướng mắc. Phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các Ban Đảng của Tỉnh ủy, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Khối Cơ quan MTTQ tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ năm 2020.

Tuy nhiên, trong điều hành phát triển KT-XH, hiệu quả công tác trên một số lĩnh vực còn có nhiệm vụ chưa đạt yêu cầu đặt ra; việc triển khai một số chỉ đạo, thực thi cơ chế chính sách của tỉnh ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn chậm, hiệu quả chưa cao, nhất là những việc mới, việc khó khi phát sinh, nhất là trước bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19; trình tự, thủ tục hành chính có khâu còn bất cập; chất lượng đội ngũ công chức, viên chức chưa đồng đều, có lúc, có nơi chưa chủ động, làm hết trách nhiệm được phân công.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT

1. Những kết quả đạt được

Kinh tế - xã hội năm 2020 mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, song với sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc của Đảng bộ, chính quyền, hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, Nhân dân các dân tộc và cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành đúng đắn, tích cực, chủ động, sâu sát, quyết liệt của Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh, các cấp, các ngành đã luôn bám sát thực tiễn và sự chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, Quốc hội; tỉnh Quảng Ninh đã hoàn thành tốt “nhiệm vụ kép”, vừa phòng chống dịch hiệu quả, kiểm soát tốt tình hình và giữ vững địa bàn an toàn, chăm lo, bảo vệ sức khỏe Nhân dân; chuẩn bị tốt và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp, có nhiều đổi mới; vừa ổn định kinh tế - xã hội, nhanh chóng phục hồi sản xuất kinh doanh, lấy lại đà tăng trưởng, tăng trưởng GRDP cả năm ước đạt 10,05%, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 49.300 tỷ đồng, vượt chỉ tiêu Trung ương giao và dự toán đầu năm, nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. An sinh, phúc lợi xã hội được chăm lo, lĩnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, thể thao, lao động, việc làm được quan tâm, hỗ trợ kịp thời doanh nghiệp, người dân do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Công tác quy hoạch, đất đai, tài nguyên và môi trường được tăng cường; công tác GPMB, triển khai các dự án trọng điểm, động lực cả trong và ngoài ngân sách được tập trung đôn đốc, đẩy nhanh tiến. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng được củng cố, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, tuyệt đối không để xảy ra đột xuất, bất ngờ.

2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh vẫn còn một số hạn chế, thách thức như: Hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực dịch vụ, dịch vụ bị giảm sút đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế. Thu nội địa mặc dù hoàn thành dự toán năm nhưng cơ cấu nguồn thu không đảm bảo, ảnh hưởng đến điều hành, cân đối thu chi ngân sách. Công tác quản lý nhà nước về đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất mặt biển, than, khoáng sản vẫn còn hạn chế. Công tác lập, quản lý quy hoạch tỉnh, địa phương, khu kinh tế, các phân khu có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu. Tiến độ giải phóng mặt bằng, thủ tục chuẩn bị đầu tư một số dự án trọng điểm còn chậm. Hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn; số lượng doanh nghiệp thành lập mới không đạt kế hoạch; số đơn vị giải thể và tạm ngừng hoạt động tăng so cùng kỳ. Đời sống của một bộ phận người lao động, người dân còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch COVID-19. Tình hình an ninh trật tự liên quan đến đền bù, giải phóng mặt mặt bằng, khiếu kiện về đất đai còn phức tạp, kéo dài ở một số địa phương.

Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó: Nguyên nhân khách quan là do Đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, đã ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt đời sống sinh hoạt và tình hình sản xuất kinh doanh hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Nguyên nhân chủ quan: Công tác tham mưu của một số sở, ngành, địa phương và một bộ phận cán bộ còn thiếu sâu sát, cụ thể và quyết liệt, thiếu chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nên hiệu quả chưa cao, trong đó có vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Trách nhiệm tham gia, phối hợp xử lý một số nhiệm vụ được giao giữa một số cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết công việc có thời điểm, có việc còn chậm, chưa chặt chẽ, kịp thời.

Phần thứ hai

NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP 
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2021

Năm 2021 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, vẫn còn những khó khăn, thách thức, đại dịch COVID-19 dự báo tiếp tục có diễn biến phức phạt. Do vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành, doanh nghiệp cần vượt qua khó khăn, thách thức, phấn đấu thực hiện thành công, toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2021, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện các mục tiêu, định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.

I. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1. Mục tiêu tổng quát

Tập trung thực hiện quyết liệt, có hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe Nhân dân, giữ vững địa bàn an toàn và đà tăng trưởng cao, phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh; đẩy nhanh tiến độ thực hiện, hoàn thành các dự án và công trình trọng điểm; phát huy vai trò của các khu kinh tế, khu công nghiệp, kinh tế đô thị; thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển nền kinh tế số, xây dựng xã hội số. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng cường ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Phát triển văn hóa giàu bản sắc và con người Quảng Ninh; khơi dậy khát vọng đổi mới sáng tạo, phát triển, phát huy ý chí tự lực, tự cường; chăm lo, bảo đảm an sinh xã hội và cải thiện đời sống Nhân dân, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh để huy động các nguồn lực phát triển; nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống vi phạm pháp luật, tham nhũng, lãng phí và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia; mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Về kinh tế: (1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng trên 10%. (2) Thu ngân sách nội địa phấn đấu mức tăng cao nhất, tỷ lệ tăng thu tương ứng với mục tiêu tăng trưởng; thu xuất nhập khẩu đạt và vượt chỉ tiêu Trung ương giao. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn không thấp hơn 51.000 tỷ đồng. (3) Tổng vốn đầu tư xã hội tăng trên 10%. (4) Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân khoảng 10%. (5) Thành lập mới trên 2.000 doanh nghiệp. (6) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 66,3%. (7) Giữ vững vị trí nhóm đầu cả nước về các Chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS, PAPI.

- Về xã hội: (8) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 85,5%, trong đó tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 46%. (9) Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị 3,7%. (10) Đạt 55 giường bệnh/1 vạn dân; 14,85 bác sỹ/1 vạn dân; 2,6 dược sỹ đại học/1 vạn dân; trên 23 điều dưỡng/1 vạn dân; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95% dân số. (11) Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,09%. (12) Có thêm 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới; 08 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 7 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

- Về môi trường: (13) Tỷ lệ người dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 98%; tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nguồn nước ăn uống hợp vệ sinh đạt trên 98,85%. (14) Tỷ lệ rác thải rắn sinh hoạt đô thị và các xã đảo, các xã có hoạt động du lịch, dịch vụ được thu gom và xử lý bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 96,5%. (15) Giữ vững tỷ lệ che phủ rừng đạt 55% và nâng cao chất lượng rừng.

II. NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Chương trình hành động của Chính phủ về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2021; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chủ đề công tác năm 2021 “Giữ vững địa bàn an toàn và đà tăng trưởng trong trạng thái bình thường mới; đẩy nhanh tốc độ phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy liên kết vùng”.

2. Tiếp tục triển khai quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại từ đại dịch Covid-19 và các dịch bệnh khác, giữ vững địa bàn an toàn và thực hiện “mục tiêu kép”. Tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; chủ động nắm bắt, dự báo sát, đúng tình hình từ xa, từ sớm; thực hiện tốt phương châm “3 trước” và “4 tại chỗ”; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ toàn tuyến biên giới, đường bộ, đường biển và đường hàng không. Nhanh chóng khoanh vùng dập dịch triệt để, điều trị hiệu quả. Chủ động bố trí nguồn lực, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người lao động và người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19.

3. Đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ, khả năng thích ứng, sức cạnh tranh, phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. Triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 01 ngày 16/11/2020 của Tỉnh ủy về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; đưa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực, tạo đột phá tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. Phát triển các khu kinh tế (Quảng Yên, Móng Cái, Vân Đồn), khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thực sự là động lực tăng trưởng; hoàn thành nạo vét luồng Sông Chanh (Quảng Yên); giải quyết dứt điểm thủ tục về quy hoạch, đất đai, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, nhanh chóng thu hút nhà đầu tư thứ cấp vào các KCN (Việt Hưng, Đông Mai, Sông Khoai, Đầm Nhà Mạc, Hải Hà...). Tạo điều kiện tốt nhất để ngành Than phát triển hợp lý, bền vững theo quy hoạch gắn với bảo vệ môi trường và tập trung giải quyết lượng than tồn kho. Duy trì ổn định hoạt động sản xuất điện, xi măng, vật liệu xây dựng.

Phát triển dịch vụ, du lịch ngày càng giữ vai trò chủ đạo, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GRDP của tỉnh. Duy trì chính sách kích cầu du lịch đủ mạnh, khai thác hiệu quả tối đa thị trường khách du lịch; phấn đấu năm 2021 thu hút được 10 triệu lượt khách. Đẩy mạnh liên kết hàng không, du lịch, điểm đến, doanh nghiệp; tăng cường liên kết vùng, nhất là với thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Năng, tỉnh Hải Dương, Bắc Giang. Khai thác khu vực động lực phát triển du lịch (Hạ Long, Vân Đồn, Uông Bí, Móng Cái). Đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái, nhất là ở Bình Liêu, Đông Triều... Coi trọng phát triển kinh tế biển và dịch vụ cảng biển; khai thác đồng bộ, hiệu quả hạ tầng cảng biển gắn với các dịch vụ hỗ trợ logistics. Triển khai hiệu quả các giải pháp kích cầu sản xuất, tiêu dùng; khuyến khích phát triển kinh tế đêm; thúc đẩy phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử, kinh tế số, dịch vụ, vận tải đa phương thức, thương mại, tài chính, tiền tệ...

Phát triển nông nghiệp hiện đại, xây dựng nông thôn văn minh, theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao. Tập trung phát triển tối đa ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; nâng cao năng lực chế biến các sản phẩm nông sản và đẩy mạnh xuất khẩu. Kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh trong ngành nông nghiệp; tăng quy mô, khôi phục đàn lợn. Hoàn thành xây dựng, phát huy hiệu quả các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Đông Triều và Đầm Hà. Huy động mọi nguồn lực đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm ưu tiên các xã có lộ trình về đích NTM trong năm 2021. Thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển lâm nghiệp bền vững theo Nghị quyết số 19 ngày 28/11/2019 của Tỉnh ủy.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành thu, chi ngân sách và đầu tư công. Tăng cường kiểm tra, giám sát, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách, tài sản công. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước, bảo đảm thu đúng, thu đủ, chống thất thu. Phấn đấu năm 2021 hoàn thành vượt dự toán giao, tăng tỷ trọng thu nội địa, đảm bảo tương ứng với mục tiêu tăng trưởng; năm 2021 thị xã Đông Triều là địa phương tự cân đối ngân sách. Cơ cấu lại nguồn lực và nhiệm vụ chi đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tập trung nguồn lực triển khai hoàn thành dứt điểm các công trình, dự án trọng điểm. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chuẩn bị đầu tư, đảm bảo đến 30/9/2021 giải ngân 100% vốn đầu tư công kế hoạch đầu năm. Dành toàn bộ nguồn tăng thu năm 2020, 2021 và tiết kiệm chi thường xuyên của năm 2021 bố trí vốn hoàn thành các dự án giao thông động lực theo Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh.

4. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược.

Huy động mọi nguồn lực, đa dạng hình thức đầu tư, kiên trì thực hiện phương châm “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư”; đẩy nhanh tốc độ phát triển và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy liên kết vùng. Năm 2021, phấn đấu hoàn thành đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, đường ven biển Hạ Long - Cẩm Phả, cầu Cửa Lục 1, 3; nút giao Đầm Nhà Mạc,...; khởi công Khu đô thị phức hợp Hạ Long Xanh, khu du lịch, dịch vụ phức hợp cao cấp Vân Đồn. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành hạ tầng các KKT, KCN, trọng tâm là KCN Việt Hưng, Hải Hà, Sông Khoai, Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong...; hoàn thành việc mở rộng giai đoạn 2 và khu nhà ở chuyên gia, công nhân của KCN Đông Mai; quy hoạch, cơ cấu lại KCN Cái Lân. Rà soát, bổ sung quy hoạch một số KCN, cụm công nghiệp mới, có lợi thế cạnh tranh theo các hành lang đô thị và giao thông tuyến phía Tây và phía Đông của tỉnh. Kêu gọi, thu hút đầu tư Cảng Con Ong - Hòn Nét, Hải Hà, Vạn Ninh.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động có kỹ năng gắn với tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dân số đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của Tỉnh, bằng những cơ chế, chính sách đủ mạnh, chuyển dịch cơ cấu lao động và kết nối cung - cầu lao động. Từng bước xây dựng, phát triển Trường Đại học Hạ Long theo mô hình đô thị đại học; mở rộng các cơ sở đào tạo, dạy nghề chất lượng cao, ưu tiên các lĩnh vực ngành nghề tỉnh cần. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo; sắp xếp lại hệ thống trường học; phát triển hài hòa giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng miền; ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; xóa phòng học tạm, phòng học không đảm bảo an toàn. Thực hiện lộ trình giữ vững kết quả và nâng cao chất lượng trường đạt chuẩn quốc gia; coi trọng dạy và học ngoại ngữ các cấp học. Ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực; xây dựng chính quyền số, đào tạo công dân thông minh. Tạo điều kiện thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp số, vườn ươm sáng tạo.

Nâng cao chất lượng cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chất lượng thực thi chính sách, pháp luật; rà soát, sửa đổi các cơ chế, quy định, quy trình bất hợp lý, chồng chéo, mâu thuẫn; đẩy mạnh cải cách thủ tục, tiếp tục cắt giảm và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cấp phép. Giảm thời gian thực hiện các thủ tục thuế, hải quan, kiểm tra, thông quan, xuất, nhập khẩu hàng hóa, xuất, nhập cảnh, kiểm dịch; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp, góp vốn, đầu tư và hoạt động. Phát kinh tế tư nhân, khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo; chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, nhà đầu tư, khu vực dân doanh; hỗ trợ chuyển đổi hộ cá nhân sản xuất, kinh doanh thành doanh nghiệp.

5. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế nhanh, bền vững với phát triển con người, xây dựng văn hóa giàu bản sắc Quảng Ninh; đảm bảo an sinh xã hội, không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, dịch vụ. Chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao quần chúng. Quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục, đào tạo, y tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế; tạo sinh kế, việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động ở các xã nông thôn, miền núi; khơi dậy ý chí chủ động vươn lên thoát nghèo. Tập trung giải quyết dứt điểm nhu cầu cấp thiết về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, khó khăn; sắp xếp ổn định định canh, định cư. Quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả quỹ đất 20% để phát triển nhà ở xã hội tại các dự án phát triển nhà ở đô thị, thương mại; tạo quỹ đất để phát triển nhà ở và các thiết chế văn hóa - xã hội, phục vụ thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, công nhân ngành Than, lao động trong các KCN, KKT, người lao động có thu nhập thấp. Thúc đẩy xã hội hóa, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Triển khai quyết liệt, đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; siết chặt quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm. Tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân, bảo hiểm thất nghiệp. Phát triển hệ thống cung cấp các dịch vụ xã hội, trợ giúp xã hội; thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; quan tâm, chăm lo đối tượng yếu thế, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, bảo vệ phụ nữ, trẻ em.

6. Tăng cường công tác quản lý trên các lĩnh vực về quy hoạch, đất đai, tài nguyên và môi trường. Tập trung hoàn thành lập, thẩm định, phê duyệt Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch chung điều chỉnh thành phố Hạ Long, Quy hoạch KKT ven biển Quảng Yên, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030, Kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2021-2025 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2021; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các quy hoạch phân khu đồng bộ với quy hoạch 3 loại rừng, các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kịp thời đáp ứng yêu cầu đầu tư, phát triển trong năm 2021. Thường xuyên giám sát, kiểm tra, thanh tra, cương quyết thu hồi các dự án có sử dụng đất, mặt nước chậm tiến độ, vi phạm pháp luật; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai. Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư gắn với tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận của nhân dân. Quyết liệt triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết số 12 ngày 03/12/2018 của Tỉnh ủy về bảo vệ môi trường tỉnh; Nghị quyết số 16 ngày 09/5/2019 của Tỉnh ủy về tăng cường quản lý tài nguyên than, khoáng sản, gắn trách nhiệm người đứng đầu. Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai.

7. Tiếp tục thực hiện đồng bộ công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan chức năng; thanh tra, kiểm tra các cơ quan, đơn vị, địa phương, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, trọng điểm tập trung vào những nơi, những khâu, các lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực như: Tổ chức, cán bộ, quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, tài chính, tài sản công, dự án đầu tư... Chú trọng kiểm tra việc khắc phục sau các kết luận, kiến nghị kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán. Nâng cao trách nhiệm, hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tiếp nhận, giải quyết kịp thời và công khai kết quả giải quyết; rà soát, giải quyết dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài, dư luận xã hội quan tâm. Thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí gắn với trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh công tác cải cách, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật và hỗ trợ pháp lý cho người dân, doanh nghiệp.

8. Triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Tỉnh về quốc phòng, an ninh; duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biên giới, biển đảo quốc gia. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, trọng tâm là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp. Thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng, an ninh mạng xã hội. Thường xuyên, chủ động, tích cực đấu tranh trấn áp hiệu quả các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy, có vũ trang, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm môi trường; không để xảy ra phức tạp về an ninh trật tự. Kiềm chế giảm tai nạn giao thông, tai nạn lao động; chủ động phòng, chống cháy nổ. Triển khai có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển ổn định lâu dài, ứng phó với đại dịch Covid-19.

9. Xây dựng chính quyền liêm chính, phục vụ, thực sự “của dân, do dân, vì dân”, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành, thực thi pháp luật toàn diện trên các lĩnh vực theo phương châm “3 rõ” (rõ việc, rõ người chịu trách nhiệm, rõ thời gian hoàn thành) của các cấp, các ngành, gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền địa phương tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chuẩn bị, tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Tăng cường phân cấp, ủy quyền cho các địa phương, đơn vị gắn với kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình. Tập trung xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, năng động, minh bạch; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, thúc đẩy toàn diện việc xử lý hồ sơ, công việc trên môi trường mạng, hướng tới các cơ quan nhà nước “không giấy tờ”.

10. Đề nghị các cơ quan Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội phối hợp, tổ chức thực hiện và tuyên truyền, vận động tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; tích cực tham gia thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, của tỉnh trong phát triển kinh tế - xã hội. Xây dựng và thực hiện hiệu quả chiến lược truyền thông chủ động; nâng cao hiệu quả hợp tác báo chí, truyền thông; chủ động cung cấp, định hướng thông tin, tạo đồng thuận xã hội.

 

.
.
.
.
.
.
.
.