Kỷ niệm 50 năm binh đoàn than ra trận (1967-2017)

50 năm ấy biết bao tự hào...

Chủ Nhật, 16/07/2017, 09:52 [GMT+7]
.
.

Cách đây 50 năm, tháng 7-1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, gần 2.000 thợ mỏ Vùng than đã gác búa, gác choòng, ra nhập Binh đoàn Than để cầm súng lên đường vào Nam chiến đấu. Họ đã lập nên nhiều chiến công làm rạng danh non sông, rạng danh Vùng mỏ, ngành than, nhiều người đã anh dũng ngã xuống cho ngày toàn thắng, thống nhất đất nước. Nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng với những cựu chiến binh Binh đoàn Than, ký ức về những ngày tháng hào hùng ấy vẫn còn hiển hiện trong tâm trí họ như thể mới ngày hôm qua.

Quang cảnh lễ xuất quân của Binh đoàn Than tổ chức tại sân Cây Tháp (Hòn Gai) ngày 27-7-1967.                        Ảnh: Quang Sơn
Quang cảnh lễ xuất quân của Binh đoàn Than tổ chức tại sân Cây Tháp (Hòn Gai) ngày 27-7-1967. Ảnh: Quang Sơn

Binh đoàn huyền thoại

Tháng 7 năm 1967, để chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, Trung ương đã chỉ đạo tỉnh Quảng Ninh và ngành Than tổ chức một đợt tuyển quân quy mô lớn. Cuộc tuyển quân diễn ra hết sức khẩn trương. Chỉ trong vòng 4 ngày (từ 27 đến 30-7-1967), tỉnh Quảng Ninh và ngành Than đã huy động đủ quân cho 3 tiểu đoàn với số quân khoảng 2.000 người: Tiểu đoàn 385 gồm công nhân Nhà máy Cơ khí Hòn Gai, công nhân Mỏ than Hà Tu, Hà Lầm... Tiểu đoàn 386 gồm công nhân các mỏ Đèo Nai, Cọc Sáu, Cơ khí Cẩm Phả... và Tiểu đoàn 9 tuyển quân toàn tỉnh.

- Binh đoàn Than thành lập cuối tháng 7-1967 với khoảng 2.000 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đoàn. Trải qua nhiều cuộc chiến đấu anh dũng, hơn 1.000 chiến sĩ đã hy sinh, hơn 400 người là thương binh, bệnh binh.
- Tiểu đoàn đặc công 406 và cá nhân liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt (Đại đội trưởng Đại đội 209) được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hơn 100 chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, được thưởng huân, huy chương các loại.
- Ban Liên lạc Binh đoàn Than hiện có 200 hội viên.
 

Cựu chiến binh (CCB) Vũ Xuân Đa, từng là công nhân mỏ Mông Dương, nhớ lại, sau lễ tuyên thệ xuất quân, các chiến sĩ thợ mỏ được lãnh đạo và ngành Than đến thăm, tặng quà và đặt tên “Binh đoàn Than”. Đó là kỷ niệm không bao giờ quên vì nó đã nhắc nhở ông và các đồng đội phát huy truyền thống thợ mỏ kiên cường. “Binh đoàn Than” không phải là một phiên hiệu quân đội nhưng đã đi vào lịch sử như một trang chói ngời, một huyền thoại trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cái tính chất huyền thoại đó theo giải thích của cụ Nguyễn Ngọc Đàm, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh - người đặt tên đoàn quân đặc biệt này là Binh đoàn Than thì nó thể hiện ở ngay cái tên. Các tiểu đoàn hợp lại thì phải là Trung đoàn chứ sao lại gọi là Binh đoàn? Đặt tên đó cho rõ khí thế Vùng mỏ và cũng là chiến thuật đánh lừa địch bởi vì khi nghe Vùng mỏ có Binh đoàn Than xuất quân, địch không hiểu binh đoàn là thế nào, quân số ra sao nên sẽ ít nhiều có sự hoang mang trong đánh giá nhận định lực lượng của ta.

Nhưng cũng vì nỗi khiếp sợ đó mà Mỹ tìm mọi cách tiêu diệt đơn vị này. “Nửa tháng sau, chúng tôi đã nghe đài BBC loan tin rằng có một binh đoàn đặc nhiệm của Việt cộng bao gồm toàn quân của than từ Vùng mỏ đang hành quân vào Nam và Mỹ ra sức bỏ bom tìm diệt chúng tôi trên đường hành quân” - Ông Bùi Duy Thinh, nguyên Trưởng Ban Liên lạc Binh đoàn Than, kể.

Cựu chiến binh Binh đoàn Than viếng mộ Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Việt tại Nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long).
Cựu chiến binh Binh đoàn Than viếng mộ Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Nguyễn Xuân Việt tại Nghĩa trang liệt sĩ Hà Tu (TP Hạ Long).

Huyền thoại những chiến công

Nhuệ khí của Binh đoàn Than đã được chứng minh trong thực tiễn chiến đấu chứ không phải qua tin đồn. Khi vào trận, chiến sĩ Binh đoàn Than ai cũng anh dũng lập chiến công, nhiều người được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Huân chương Chiến sĩ giải phóng v.v.. Trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, chiến sĩ Binh đoàn Than đánh trận đầu tiên đã giành chiến thắng; chiếm điểm cao 689, 845, 833 và cắt đường số 9, tạo điều kiện cho các đơn vị khác tiến lên làm chủ nhiều vị trí quan trọng. Đồng chí Phạm Xuân Hùng (công nhân Tuyển than Cửa Ông) đã bắn cháy 2 xe tăng, 1 xe cơ giới của địch.

Sau năm 1968, vì là quân công nghiệp - vốn có tính kỷ luật cao hơn nên chiến sĩ Binh đoàn Than được chia ra bổ sung cho các đơn vị. Họ trở thành nòng cốt trong các đơn vị chiến đấu; tham gia nhiều trận đánh lớn ở Tây Nguyên; giúp Lào giải phóng thị xã A-tô-pơ, cao nguyên Pô-lô-ven; giúp Campuchia giải phóng thành phố Công-Pông-Thom, thị xã S-tung Cheng, Cra-Chi-ê. Một số khác có mặt trong các Sư đoàn 320, Sư đoàn 304, Sư đoàn 340 và những sư đoàn chủ lực của Bộ Tổng tham mưu. Theo Đại tá Trần Bá Đức, Chủ tịch Hội CCB TP Cẩm Phả - CCB Binh đoàn Than, dấu chân người lính Binh đoàn đã in suốt chiều dài dãy Trường Sơn, rồi lại xuống miền Đông Nam Bộ, sang miền Tây Nam bộ sang đến Lào, Campuchia.

Riêng Tiểu đoàn 9, theo CCB Phạm Hồng Thái (hiện ở phường Bãi Cháy, TP Hạ Long) gồm hơn 600 quân chia ra 200 chiến sĩ bổ sung củng cố Tiểu đoàn đặc công 406 có nhiệm vụ thọc sâu, bám sát thắt lưng địch ở ngay cơ quan đầu não của chúng ở Bắc Tây Nguyên. 300 quân được bổ sung cho Trung đoàn 66 và còn lại khoảng 100 quân thì bổ sung cho Trung đoàn 95 và một số đơn vị khác. CCB Trần Đình Diễn (hiện ở phường Bãi Cháy, TP Hạ Long) từng chiến đấu ở Tây Nguyên kể, lúc đó chiến sĩ sinh hoạt rất thiếu thốn nhưng chiến đấu vô cùng anh dũng. Mỗi lần xuất kích là một lần lao vào cuộc chiến ác liệt nên nhiều trận anh em đã được làm lễ truy điệu sống trước lúc lên đường.

Như vậy, chiến sĩ Binh đoàn Than đã có mặt ở những nơi ác liệt nhất, lập nhiều chiến công như: Trận đánh vào kho xăng Nhà Bè do đồng chí Nguyễn Đức Bình (công nhân mỏ Đèo Nai) cùng đồng đội tiến hành đã tiêu huỷ hàng vạn lít xăng dầu của địch; trận đánh cầu Mương Chuối (Long An) do đồng chí Lê Xuân Ba chỉ huy; trận đánh trên sông Rạch Dừa, do trung đội trưởng Lại Ngọc Nhiếp (công nhân mỏ Thống Nhất) chỉ huy đã bắn chìm 2 tàu chiến, tiêu diệt nhiều lính Mỹ, Ngụy; trận đánh của Trung đội trưởng Đỗ Văn Đồng (công nhân Tuyển than Cửa Ông) tiêu diệt một trung đội lính Ngụy dẫn đường; chiến sĩ Trịnh Xuân Đối (công nhân mỏ Thống Nhất) 4 lần được phong Dũng sĩ diệt Mỹ; chiến sĩ Trần Văn Phóng đóng giả sĩ quan Ngụy đánh chiếm Sở chỉ huy địch, hết đạn vẫn chiến đấu bằng dao găm hay như chiến sĩ Trần Lệnh Ngôn chỉ huy đại đội chiến đấu liên tục 10 giờ, đứt 1 chân vẫn không rời vị trí v.v..

Riêng Tiểu đoàn 9 trở thành lực lượng nòng cốt lập nhiều chiến công, góp phần cho Tiểu đoàn đặc công 406 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Liệt sĩ Nguyễn Xuân Việt (Đại đội trưởng Đại đội 209) được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tất cả những chiến công đó đã khiến cho cái tên Binh đoàn Than ngày càng lừng danh.

Trong số 2.000 chiến sĩ xuất quân, nhiều người nằm lại chiến trường, nhiều người trở thành thương binh, bệnh binh. Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ thì Binh đoàn Than có khoảng trên 1.000 liệt sĩ và gần 400 thương, bệnh binh. Những người lành lặn phần lớn lại quay về, gắn bó với ngành Than cho đến khi nghỉ hưu. Họ tập hợp nhau lại thành lập Ban Liên lạc, thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa, tương trợ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Với những người còn sống, chiến tranh đã lùi xa, cái tên Binh đoàn Than vẫn mãi mãi là niềm tự hào về một thời trẻ trai ra đi từ Vùng mỏ anh hùng.

Huỳnh Đăng

Hồi ức chiến sĩ Binh đoàn Than

 

ÔNG NGUYỄN HẢI HIỆP, TRƯỞNG BAN LIÊN LẠC BINH ĐOÀN THAN:

“Binh đoàn Than có mặt ở những nơi ác liệt nhất”


50 năm về trước, chúng tôi hăng hái lên đường mang theo tinh thần “Kỷ luật và đồng tâm” của thợ mỏ.  Vào chiến trường, cứ chỗ nào khó khăn, gian khổ ác liệt nhất, chiến sĩ Binh đoàn Than chúng tôi cũng đều có mặt và đi tiên phong, không ngại hy sinh. Chúng tôi trực tiếp tham gia các trận chiến đấu ác liệt tại sân bay Tà Cơn (Quảng Trị) năm 1968. Anh em hy sinh khá nhiều. Quân số còn lại không duy trì trong biên chế 3 tiểu đoàn nói trên nữa mà phải chia lẻ ra bổ sung cho các đơn vị khác. Đồng đội tôi lên Tây Nguyên giữ đất, đánh lấn ngay trong lòng địch, có người sang làm nhiệm vụ quốc tế với nước bạn Lào, Campuchia; nhiều đồng đội của tôi đã anh dũng hy sinh hiện vẫn nằm lại chiến trường. Có người hy sinh mà chưa biết mặt con, người hy sinh mà bây giờ không tìm thấy thi thể, người hy sinh giữa vùng nước nổi không có đất phải quấn lại yên nghỉ trên ngọn cây sú, vẹt .v.v.. Hơn 2.000 anh em lên đường giờ hy sinh nhiều, người thì ốm đau bệnh tật qua đời nên chỉ còn lại chưa đầy 200.

 

ÔNG BÙI DUY THINH, PHƯỜNG CAO THẮNG (TP HẠ LONG):

“Tinh thần “kỷ luật và đồng tâm” tạo nên cái khác biệt”


50 năm đã trôi qua, nhưng ký ức về những ngày tháng 7-1967 vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Ngày ấy từ mỏ than Hà Tu, tôi ra nhập Binh đoàn Than cùng hơn 2.000 đồng đội hành quân vào Nam. Suốt chặng đường chúng tôi hành quân vào Nam, không ai tụt lại cả. Nhiều đồng chí khác chiến đấu anh dũng lập chiến công. Nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh, nhiều đồng chí trở về với thương tật đầy mình, hay nạn nhân chất độc da cam. Khi trở về, nhiều đồng chí có cơ hội chuyển ngành nhưng đa số đều từ chối để quay lại làm việc ở đơn vị cũ. Khi đã cởi bộ quân phục, trở về với đời thường, nhìn chung anh em đều phấn đấu tốt, kinh tế ổn định, nhiều người làm ăn khấm khá. Tinh thần chung là anh em trong Binh đoàn Than năm xưa gắn bó với nhau, tương trợ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Cũng chính vì tinh thần ấy, phẩm chất ấy mà chúng tôi yêu ngành Than, gắn bó với Vùng mỏ.

 

ÔNG TRỊNH XUÂN ĐỐI, PHƯỜNG CẨM TÂY (TP CẨM PHẢ):

“Chiến công oanh liệt của đồng đội tôi làm rạng danh Binh đoàn Than”


Năm 1967, khi đang là thợ lò ở mỏ than Thống Nhất, hưởng ứng lời kêu gọi “chống Mỹ cứu nước”, tôi cùng anh em viết đơn tình nguyện tái ngũ, được chấp nhận và biên chế vào Tiểu đoàn 386 - một trong 3 tiểu đoàn của Binh đoàn Than. Chúng tôi đã chiến đấu lập nhiều chiến công làm rạng rỡ Binh đoàn Than. Riêng tôi, tôi nhớ nhất những trận đánh vào Tràng Bảng (Tây Ninh), cùng với các quân đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh hay như trận tập kích trung đội lính Mỹ đổ bộ bằng trực thăng tại xã Nhật Linh, huyện Tân Trụ (Long An) với cương vị tiểu đội trưởng. Ở chiến trường, tôi đã được kết nạp Đảng, 4 lần được thưởng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, được thưởng nhiều huân huy chương các loại. Tôi còn may mắn hơn nhiều đồng đội là còn sống trở về. Trong cuộc sống hay trong công việc, tôi vẫn thường nhắc nhở mình rằng phải làm sao cho xứng đáng với bản chất tốt đẹp của chiến sĩ Binh đoàn Than.

 

ÔNG LƯU VĂN QUÝ, PHƯỜNG HỒNG HẢI (TP HẠ LONG):

“Nếu tôi hy sinh hãy đưa kỷ vật của tôi về Vùng mỏ”


Năm 1967, khi đang là thợ mỏ than Hà Tu, tôi đã viết đơn xung phong nhập ngũ. Trong chiến trường ác liệt, đồng đội tôi chiến đấu rất quả cảm, nhiều đồng chí đã hy sinh. Riêng tôi cũng nhiều lần đối diện với cái chết. Tôi bị thương nặng vào đầu tưởng không qua khỏi khi đơn vị bị máy bay địch càn ở Long An. May mà có 2 đồng đội dìu tôi ra ngoài đưa đi cứu chữa. Lại có lần, đang ở trạm cứu thương giữa rừng Trường Sơn, tôi bị ốm kịch liệt thập tử nhất sinh. Tôi dặn dò đồng đội, khi tôi chết hãy mang những kỷ vật chiến trường về cho gia đình. Lần đó, không biết có phép tiên nhiệm màu nào mà tôi đã qua khỏi. Hoà bình lập lại, tôi về mỏ Hà Tu tiếp tục công tác. Giờ đây, mỗi khi trái nắng trở giời, vết thương ở đầu lại tái phát. Nhiều đêm, những cơn mơ lại đến, ký ức về những năm tháng chiến tranh, kỷ niệm với đồng đội lại hiện về khó quên...

 

ÔNG CHU VĂN ĐÍCH, PHƯỜNG HÀ LẦM (TP HẠ LONG):

“Giữa làn ranh giới sinh tử, mới hiểu hết tình đồng đội”


Tôi là người có nhiều kỷ niệm đặc biệt về Binh đoàn Than. Trước khi nhập ngũ, tôi vốn là thợ Nhà máy Cơ khí Hòn Gai. Sau khi được tuyển vào Binh đoàn Than, tôi được biên chế vào Đại đội 4, Tiểu đoàn 385. Ngay khi Binh đoàn Than chuẩn bị vào chiến trường, máy bay của Mỹ đã rải truyền đơn loan tin thông báo có đơn vị đặc nhiệm của đất mỏ sắp vào Nam. Truyền đơn của Mỹ cũng không làm nhụt nhuệ khí chiến đấu của chúng tôi. Tôi không thể nhớ nổi mình đã trải qua bao nhiêu trận đánh lớn, nhỏ chỉ biết rằng giữa làn ranh giới sinh tử, mới hiểu hết tình đồng đội. Anh em không chỉ sẻ chia miếng cơm manh áo, mà còn nhường nhau cả sự sống và cái chết. Có lần tôi quyết định cùng một đồng chí cấp dưới lên đường làm nhiệm vụ, đồng chí ấy kiên quyết không cho tôi đi cùng. Mấy ngày sau, cậu ấy đã anh dũng hy sinh. Có lẽ cậu ấy biết trước điều đó.

Phạm Học (Thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.