Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Thợ mỏ Quảng Ninh làm theo lời Bác

Thứ Ba, 15/11/2016, 07:01 [GMT+7]
.
.

Ngày 15-11-1968, trong buổi gặp đoàn đại biểu ngành Than tại Phủ Chủ tịch, Bác Hồ căn dặn: “Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc. Toàn thể công nhân và cán bộ phải có nhiệt tình cách mạng và tinh thần yêu nước rất cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng rất vững, phải đoàn kết nhất trí, vượt mọi khó khăn nhằm vào một mục đích chung là sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc. Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành Than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác”.

Thợ lò Phân xưởng khai thác 7 sử dụng công nghệ giá khung ZH trong khai thác than tại diện khai thác giếng Vàng Danh.  Ảnh: Phạm Cường (CTV)
Thợ lò Phân xưởng khai thác 7 sử dụng công nghệ giá khung ZH trong khai thác than tại diện khai thác giếng Vàng Danh. Ảnh: Phạm Cường (CTV)

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến thợ lò, ngành Than và rộng hơn là Vùng mỏ. Người đã rất chú ý dõi theo tinh thần đấu tranh cách mạng “Kỷ luật và đồng tâm” của công nhân Vùng mỏ. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đến Quảng Ninh lần đầu tiên (ngày 24-3-1946) để hội đàm với đại diện nước Pháp bàn việc thực hiện Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, trên Vịnh Hạ Long, Người nói: “Vùng mỏ đất nước ta thật đẹp và giàu, thợ mỏ của ta thật vô cùng anh dũng!”. Vùng mỏ được giải phóng, trong niềm vui vô bờ, trọng trách đặt lên vai chính quyền, nhân dân và đặc biệt là thợ mỏ vô cùng nặng nề. Thấu hiểu rõ điều đó, Bác đã nhắc nhở công nhân mỏ: “Anh em công nhân phải bảo vệ hầm mỏ, nhà máy, kho tàng và nâng cao sản xuất... Muốn cải thiện đời sống thì phải khôi phục và phát triển kinh tế”.

Từ năm 1957 đến 1965 là giai đoạn có thể nói, mỗi người Vùng mỏ, đặc biệt là thợ mỏ làm việc “bằng năm bằng mười” để vừa phát triển sản xuất, vừa chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Ngành Than khi ấy có vị trí đặc biệt quan trọng, là nguồn năng lượng chủ yếu phục vụ xây dựng đất nước. Chính vì vậy, Bác Hồ càng dành sự quan tâm lớn cho Quảng Ninh và ngành Than. Giai đoạn này, Bác Hồ về thăm Vùng mỏ tất cả 6 lần. Lần nào Bác cũng thăm hỏi, động viên và nhắc nhở đồng bào, chiến sĩ, công nhân mỏ đoàn kết, thi đua lao động, sản xuất, xây dựng Vùng mỏ giàu đẹp.

Tết năm 1965 cũng là lần cuối Bác về thăm Quảng Ninh, vui tết chiến thắng với đồng bào, chiến sĩ Vùng mỏ. Trong cuộc mít tinh, Người thăm hỏi và chúc Tết đồng bào, kêu gọi công nhân mỏ thi đua lao động sản xuất “Vì miền Nam ruột thịt”. Bác còn trao tặng ngành Than Cờ thưởng luân lưu khá nhất và trực tiếp giao cho mỏ than Đèo Nai. Sau này, tuy bận trăm công ngàn việc, không đến được tất cả các công trường, hầm lò ở Vùng mỏ nhưng Bác Hồ luôn quan tâm động viên phong trào thi đua sản xuất của ngành Than.

Ngày 15-11-1968, trong buổi gặp Đoàn đại biểu ngành Than tại Phủ Chủ tịch, Bác căn dặn: “Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc. Toàn thể công nhân và cán bộ phải có nhiệt tình cách mạng và tinh thần yêu nước rất cao, ý chí quyết đánh, quyết thắng rất vững, phải đoàn kết nhất trí, vượt mọi khó khăn nhằm vào một mục đích chung là sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc. Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành Than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác”.

Lời dạy của Bác đã được thợ mỏ Quảng Ninh khắc ghi trong lòng và trở thành động lực to lớn để thợ mỏ nỗ lực phấn đấu, đạt nhiều thành tích. Trong những năm qua, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã không ngừng nỗ lực phấn đấu để trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh đa ngành trên nền cơ bản là sản xuất và kinh doanh than. Thực hiện lời Bác dạy: “Sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc”, ngành Than đã tập trung đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, sản lượng khai thác than. Điều kiện làm việc của công nhân mỏ được nâng lên rõ rệt, đời sống vật chất lẫn tinh thần đều được quan tâm, thu nhập của thợ mỏ ngày càng tăng.

Hiện nay, để tiếp tục tăng sản lượng, năng suất đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia, Tập đoàn đang tiếp tục đầu tư và mở rộng nâng công suất, xây dựng các mỏ mới như Khe Chàm III, Khe Chàm II - IV, Hà Lầm, Núi Béo... Đến nay, so với năm 1995, khi mới thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam, sản lượng than khai thác đã tăng gấp 5 đến 6 lần, tổng doanh thu tăng gấp 43 lần, thu nhập bình quân của người lao động tăng 13 lần. Tập đoàn đã bảo toàn và phát triển được vốn Nhà nước giao, vốn chủ sở hữu tăng 40,4 lần và đóng góp vào ngân sách nhà nước trên 13.000 tỷ đồng mỗi năm. Từ sản xuất than tại địa bàn Quảng Ninh, ngành Than đã đầu tư các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khoáng sản, điện lực, hoá chất, cơ khí và một số lĩnh vực khác; đã đầu tư 2 dự án khai thác bauxit tại tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Nông làm thức dậy vùng tài nguyên Tây Nguyên đầy tiềm năng, đã góp phần tích cực đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn trọng điểm của đất nước. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ngành Than đã tiến hành thoái vốn khỏi các lĩnh vực không thuộc ngành nghề sản xuất kinh doanh chính để tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu là than, khoáng sản, điện, vật liệu nổ công nghiệp và các ngành công nghiệp dịch vụ hỗ trợ cho công nghiệp mỏ.

Đặc biệt, trước những khó khăn hiện nay, ngành Than đã có những giải pháp chủ động, linh hoạt theo cơ chế thị trường để chỉ đạo, điều hành sản xuất - tiêu thụ phù hợp, ổn định tư tưởng, việc làm và thu nhập cho người lao động; luôn động viên và khơi dậy tinh thần làm chủ, sáng tạo, vượt khó của đội ngũ cán bộ, công nhân, phấn đấu vươn lên, liên tiếp hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch được Đảng và Nhà nước giao. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, ngành Than đã phối hợp tốt với tỉnh trong việc lập lại trật tự trong sản xuất - kinh doanh than, bảo vệ môi trường Vùng mỏ, làm tốt công tác an sinh xã hội, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.

Nguyên Lâm

.
.
.
.
.
.
.
.