.

Xử lý vi phạm trong khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép: Cần chế tài mạnh hơn

Cập nhật lúc 05:55, Thứ Năm, 10/05/2012 (GMT+7)

Trong thời gian qua, hoạt động khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, duy trì được trật tự. Đạt được kết quả đó là do các ngành, địa phương đã tích cực vào cuộc, triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 01, ngày 24-1-2011 và các Công văn số 321, 332 của UBND tỉnh về tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh than trái phép trên địa bàn.

Theo báo cáo của ngành chức năng, từ tháng 12-2010 đến tháng 11-2011, lực lượng công an đã bắt giữ 1.389 vụ tập kết, kinh doanh và vận chuyển than trái phép; triệt phá 1.163 lượt lò, điểm khai thác than trái phép, tịch thu 40.474 tấn than; phá dỡ 139 lán trại, trục xuất hơn 300 lượt người từ các địa phương khác đến khai thác, thu gom than trái phép. Ngành chức năng đã lập hồ sơ xử lý 1.137 vụ với 1.167 đối tượng, trong đó: xử lý hành chính 1.127 vụ, 1.115 đối tượng, phạt 5.860 triệu đồng; khởi tố 9 vụ, 63 bị can phạm tội liên quan đến than. Đặc biệt, từ tháng 12-2011 đến nay, hoạt động khai thác, vận chuyển than trái phép đã cơ bản được kiểm soát và kiềm chế. Tuy nhiên, vẫn còn một số đối tượng lén lút hoạt động nhưng đã bị phát hiện, xử lý kịp thời. Lực lượng công an toàn tỉnh đã phát hiện, bắt giữ 277 trường hợp vận chuyển (gồm 258 ô tô, 19 tàu) và 32 trường hợp kinh doanh than trái phép; triệt xoá và đình chỉ 443 lượt điểm khai thác, tái khai thác than trái phép, giải toả 140 lán trại và trục xuất 15 trường hợp lao động khai thác than trái phép…

Là lực lượng nòng cốt, ngành Công an luôn xác định việc xử lý vi phạm, duy trì trật tự trong khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than là một trong những công tác trọng tâm, thường xuyên và lâu dài để phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Công tác tuyên truyền, vận động được đặc biệt quan tâm, trên cơ sở đánh giá hiệu quả của mô hình “Khu phố tự quản về ANTT, đấu tranh phòng, chống khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép” tại địa bàn TP Hạ Long, Công an tỉnh đã chỉ đạo Công an TP Hạ Long tiếp tục nhân rộng mô hình này. Đồng thời tổ chức giới thiệu nội dung và phương pháp xây dựng mô hình cho công an các địa phương có than nghiên cứu, vận dụng thực hiện phù hợp với tình hình địa bàn, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống các hành vi khai thác, vận chuyển, chế biến, tiêu thụ than trái phép.

Bên cạnh việc xây dựng các kế hoạch mang tính định hướng lâu dài, Công an tỉnh cũng căn cứ vào tình hình thực tế để tập trung chỉ đạo các đơn vị, địa phương tập trung phối hợp xử lý tình hình phát sinh tại từng địa bàn cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an. Đặc biệt, thực hiện công văn số 4314, ngày 26-10-2011 của UBND tỉnh, Công an tỉnh đã tổ chức Hội nghị chuyên đề chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp để tập trung xử lý tình trạng khai thác, vận chuyển than trái phép và tình trạng thông đồng, móc nối khai thác than trái phép giữa các doanh nghiệp thuộc Vinacomin với tư nhân. Trên cơ sở đó, từ tháng 11-2011, lực lượng công an đã đồng loạt ra quân, phối hợp với chính quyền các địa phương, các ngành chức năng tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo theo lĩnh vực, địa bàn quản lý của mình.

Đặc biệt, ngành Công an đã chỉ đạo rà soát toàn diện tình hình khai thác than trái phép cả ở trong và ngoài ranh giới các mỏ; tập trung xử lý các trường hợp mua, bán đất vườn, trồng rừng, san lấp mặt bằng để tổ chức khai thác than trái phép. Phân công lực lượng tham gia phối hợp thường xuyên ra quân kiểm tra, triệt phá, giải toả các điểm khai thác, tập kết, chế biến, tiêu thụ than trái phép trên địa bàn phường Cao Xanh, Cao Thắng, Hà Khánh, Hà Lầm, Việt Hưng (TP Hạ Long); khu vực khai thác của Công ty Vietmindo (Uông Bí, Hoành Bồ); khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Yên Lập (Quảng Yên, Hoành Bồ). Đồng thời tham mưu cho chính quyền và các ngành chức năng, địa phương không cấp giấy phép thay đổi mục đích sử dụng đất hoặc đăng ký thực hiện các dự án tư nhân có dấu hiệu lợi dụng khai thác than trái phép. Tổ chức việc giám sát việc chấp hành các quy định của UBND tỉnh đối với những doanh nghiệp thực hiện các dự án đã được phép tận thu than (Dự án cải tạo lòng hồ Khe Ươn 2; dự án kinh doanh sinh vật cảnh và dịch vụ sinh thái tại phường Thanh Sơn, TP Uông Bí; dự án đường liên huyện Uông Bí - Hoành Bồ...). Tăng cường kiểm tra tại các điểm lò đã bị san lấp, triệt phá, chủ động phát hiện dấu hiệu tái khai thác tại các vị trí này; đồng thời duy trì kiểm tra nhân khẩu tạm trú, phát hiện, trục xuất các trường hợp đến cư trú trái phép với mục đích khai thác than.

Đối với hoạt động vận chuyển than trái phép trên cả đường bộ, đường thuỷ nội địa, lực lượng Công an thường xuyên bố trí lực lượng, phương tiện để chủ động phát hiện, xử lý các phương tiện vận chuyển than trái phép. Cụ thể, đã duy trì hoạt động thường xuyên 3 chốt tại cầu Đá Bạc (TP Uông Bí), cầu Tràng Bạch (huyện Đông Triều) và phường Quang Hanh (TP Cẩm Phả). Trong các đợt cao điểm ngành còn tăng cường các tổ, chốt tuần tra cơ động liên ngành để kiểm tra, xử lý phương tiện vận chuyển than trên các tuyến giao thông công cộng trọng điểm.

Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh, chế biến, tiêu thụ than, ngành Công an đã tham mưu cho lãnh đạo Vinacomin ban hành văn bản chỉ đạo, phân công trách nhiệm của giám đốc các mỏ trong công tác quản lý tài nguyên. Phối hợp rà soát hoạt động 26 cảng, bến chế biến, tiêu thụ than thuộc đơn vị ngành Than và 50 cá nhân hoạt động trên 33 cảng, bến ngoài ngành Than có biểu hiện hoạt động tập kết tiêu thụ than trái phép. Đối với các cảng, bến không nằm trong quy hoạch theo Quyết định số 557, ngày 3-3-2010 của UBND tỉnh, ngành đã kịp thời tham mưu cho chính quyền tổ chức giải toả.

Mặc dù việc xử lý các vi phạm trong khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trên địa bàn tỉnh đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, hiện nay các địa phương đã duy trì được trật tự. Tuy nhiên, do tài nguyên than hiện nằm rải rác trên phạm vi rộng, cả trong và ngoài ranh giới mỏ, nhiều nơi xen lẫn trong khu dân cư nên khó kiểm soát cũng như ngăn chặn triệt để (điển hình là địa bàn TP Hạ Long). Mặt khác, với một tuyến biển rộng và địa hình rất phức tạp, số lượng phương tiện tỉnh ngoài đến Quảng Ninh vận chuyển than lớn nên công tác quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu. Đặc biệt, chế tài để xử lý hình sự đối với hành vi khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép còn thiếu gây khó khăn cho công tác xử lý. Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước và trách nhiệm trong quản lý lãnh thổ, quản lý chuyên ngành của các ngành chức năng và chính quyền cơ sở chưa được thực hiện một cách hiệu quả, đồng bộ, có lúc thể hiện sự lúng túng, đùn đẩy trách nhiệm. Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân có lúc còn hạn chế nên chưa phát huy hiệu quả.

Để ngăn chặn các vi phạm trong khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả, trong thời gian tới rất cần sự vào cuộc tích cực hơn nữa của các ngành chức năng và chính quyền cơ sở.

Thu Hằng

,
.
.
.
.
.